Hội đồng hỏi "biến này đóng vai trò gì" thì thuộc tên là chưa đủ. Bài này giúp bạn gọi đúng vai trò từng biến trong mô hình của mình.
Trong sổ điểm danh, cột "giới tính" mỗi người một giá trị; cột "trường" ai cũng ghi giống nhau. Cột thứ nhất là biến - đặc điểm thay đổi giữa các quan sát. Cột thứ hai là hằng số - ai cũng như ai.
Câu sàng lọc S2 hỏi bạn có là sinh viên học tại TP.HCM không; ai trả lời "Không" bị dừng khảo sát. Vậy trong mẫu cuối cùng, "là sinh viên TP.HCM" là hằng số. Bạn không thể kiểm định nó ảnh hưởng gì đến ý định mua, vì không có ai "khác" để so. Thứ không thay đổi thì không giải thích được sự thay đổi.
Vai trò không nằm trong bản thân biến mà do mô hình gán. Cùng là "thu nhập", nghiên cứu này dùng làm biến kiểm soát, nghiên cứu khác dùng làm biến điều tiết.
| Vai trò | Ẩn dụ | Trong khóa luận của bạn |
|---|---|---|
| Độc lập (X) | Phân bón bạn thay đổi | X1 CLND · X2 HDTT · X3 MBTT · X4 DG · X5 DTC |
| Phụ thuộc (Y) | Cây cao bao nhiêu | Y YDM - ý định mua |
| Trung gian | Rễ hút phân rồi cây mới lớn: nằm giữa X và Y | Không có. Nhưng thành phần O của S-O-R thường là trung gian - cần giải thích vì sao bạn kiểm định trực tiếp X→Y (bài 18) |
| Điều tiết | Trời mưa làm phân bón có tác dụng mạnh hơn | Không có. Ví dụ: thu nhập làm X4→Y mạnh hay yếu đi |
| Kiểm soát | Giống cây - giữ cố định để không đổ oan cho phân bón | D1 tuổi, D3 giới tính, D4 tần suất mua chỉ là biến kiểm soát nếu bạn đưa chúng vào hồi quy |
X chỉ được giả định là nguyên nhân: khảo sát cắt ngang cho thấy quan hệ, không chứng minh nhân quả (bài 16).
Mỗi mũi tên X→Y trong hình mô hình là một giả thuyết: 5 mũi tên, 5 giả thuyết H1–H5. Dấu "+" cạnh mũi tên là dự đoán quan hệ cùng chiều. Chỗ không có mũi tên (ví dụ giữa X1 và X5) là chỗ không có giả thuyết. Mũi tên vẽ trước khi có số liệu, từ lý thuyết Chương 2; vẽ thêm sau khi thấy kết quả là lỗi liêm chính (bài 17).
"Học lực" có thật nhưng không ai cân được; ta chỉ thấy điểm từng môn. Điểm trung bình học kỳ đại diện cho học lực - gần đúng, không phải chính học lực. Khóa luận của bạn y hệt:
Đừng nói "trung bình 4 câu là chất lượng nội dung". Hãy nói: ta xấp xỉ biến tiềm ẩn bằng trung bình 4 biến quan sát. Phép này coi 4 câu nặng ngang nhau và còn mang sai số đo. Ước lượng chính biến tiềm ẩn cần mô hình nhân tố (CFA/SEM) - ngoài phạm vi khóa luận.
Câu hỏi để phân loại: con số của biến này có nghĩa về độ lớn không?
| Loại | Con số nghĩa là gì | Ví dụ trong bảng hỏi |
|---|---|---|
| Định tính | Chỉ là nhãn để phân nhóm. Nữ = 2 không "lớn hơn" Nam = 1 | D3 giới tính, R1 địa phương xuất xứ, D5 có tham gia quyết định mua |
| Định lượng | Con số đo độ lớn, cộng trừ có nghĩa | Điểm trung bình X1–X5, Y |
Đừng nhầm biến định tính với nghiên cứu định tính: nghiên cứu định lượng vẫn có biến giới tính. Một câu Likert đơn lẻ nằm ở vùng xám giữa hai loại - đó là bài 03.
Mở KLTN_CHINH_SUA_DOT_1.docx (mô hình ở Chương 3) và NOI_DUNG_GOOGLE_FORMS_KHAO_SAT.md (câu D1–D5, S2).
Kẻ bảng sau, điền đủ 12 dòng: X1, X2, X3, X4, X5, Y, D1, D2, D3, D4, D5, S2.
| Biến | Vai trò | Tiềm ẩn / quan sát | Định tính / định lượng | Đo bằng gì |
|---|---|---|---|---|
| X1 CLND | Độc lập (H1) | Tiềm ẩn | Định lượng (điểm TB) | Trung bình X1.1–X1.4 |
| D3 Giới tính | … | … | … | … |
Sản phẩm: bảng 12 dòng. Với D1–D5, ghi rõ dùng để mô tả mẫu hay kiểm soát; chưa quyết được thì ghi "hỏi GVHD". Dòng S2 phải ra "hằng số".
Nguyễn Đình Thọ, Giáo trình Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, ấn bản lần 2 (2014), NXB Tài chính - chương về khái niệm, biến và mô hình nghiên cứu. Link thư viện ĐH Thăng Long (chưa xác minh là record của sách). Đọc để quen cách gọi tên vai trò biến theo văn phong mà hội đồng VN dùng.
Tôi là giáo viên của bạn trong khóa này. Vẫn lẫn trung gian với điều tiết? Nói "cho tôi thêm một ví dụ về mật ong" - cặp này ai cũng hay nhầm.