Bài 10 · Phần C - Bốn bước phân tích trong SPSS

Bước 1 - Cronbach's Alpha: thang đo có đáng tin không

Trước khi hỏi các biến ảnh hưởng nhau thế nào, phải chắc mỗi bộ 4 câu đang đo cùng một thứ. Đây là bảng đầu tiên của Chương 4 mà hội đồng soi.

≈ 10 phút đọc · 1 bài tập · Nối tiếp: Bài 11 - EFA

Độ tin cậy nội tại: bốn nhân chứng kể cùng một chuyện

Bốn nhân chứng được hỏi riêng về cùng một vụ việc. Lời kể khớp nhau thì bạn tin. Ba người khớp, một người kể khác hẳn thì bạn nghi người thứ tư - có thể họ hiểu nhầm câu hỏi.

Bốn câu Y.1–Y.4 là bốn nhân chứng cho "ý định mua". Cronbach's Alpha (α) đo mức các câu trong cùng một thang đo trả lời nhất quán với nhau - gọi là độ tin cậy nội tại. α thường từ 0 đến 1, càng cao các câu càng "khớp lời khai". Chạy riêng 6 lần cho X1–X5 và Y, không gộp 24 câu.

Ba con số cần đọc

Đường đi trong SPSS: Analyze → Scale → Reliability Analysis, đưa 4 câu của một biến vào, Model: Alpha, bấm Statistics và tích Scale if item deleted. Paste → Run (bài 09). Ví dụ cho X2 HDTT (toàn bộ số liệu giả lập): α = 0,74.

Biến quan sátCorrected Item-Total CorrelationCronbach's Alpha if Item Deleted
X2.10,620,63
X2.20,580,65
X2.30,600,64
X2.40,210,81
  1. Cronbach's Alpha của cả thang đo Quy ước phổ biến: α ≥ 0,7 (Nunnally, 1978). Nunnally đặt 0,70 cho giai đoạn nghiên cứu sơ bộ, 0,80 cho nghiên cứu cơ bản, 0,90 trở lên cho ứng dụng ra quyết định. Ở đây 0,74 - đạt.
  2. Tương quan biến–tổng hiệu chỉnh Mỗi câu đi cùng tổng các câu còn lại đến mức nào. Ngưỡng loại biến quan sát khi kiểm định độ tin cậy: ≥ 0,3 (Nunnally & Bernstein, 1994). X2.4 chỉ 0,21 - nhân chứng kể chuyện khác.
  3. Alpha nếu loại biến α của thang đo nếu bỏ câu đó. Cao hơn α hiện tại → câu đó đang kéo thang đo xuống. Bỏ X2.4, α lên 0,81.
Mốc 0,6: có thật, nhưng không phải ở ấn bản 1978

Rất nhiều khóa luận viết "α ≥ 0,6 là chấp nhận được (Nunnally, 1978)". Sai ở chỗ gán năm: 0,50–0,60 là mốc của Nunnally (1967, ấn bản 1) cho giai đoạn phát triển thang đo; Nunnally (1978, ấn bản 2) mới nâng lên 0,70. Hair et al. cũng chấp nhận 0,60–0,70 cho nghiên cứu khám phá. Nên nếu trường bạn cho dùng 0,6, hãy trích đúng ấn bản 1967 hoặc Hair - đừng trích 1978. Xem Peterson (1994), JCR 21(2).

Quy trình loại câu và chạy lại

  1. Soát lỗi nhập trước Tương quan biến–tổng âm thường là câu hỏi đảo chưa đảo điểm (bài 05). Sửa dữ liệu, đừng loại câu.
  2. Tìm câu yếu nhất Tương quan biến–tổng < 0,3, và thường đi kèm alpha nếu loại biến cao hơn α hiện tại.
  3. Đọc lại câu chữ trước khi loại Câu đó mơ hồ? Hỏi hai ý một lúc? Cần lý do nội dung, không chỉ con số.
  4. Loại đúng một câu, chạy lại Loại một câu thì mọi con số của các câu còn lại thay đổi. Câu thứ hai trông yếu có thể sẽ ổn sau lần chạy lại.
  5. Ghi lại mọi lần loại Câu nào, lần chạy thứ mấy, α trước và sau. Thang đo 4 câu mà phải loại 2 câu thì dừng lại, bàn với GVHD.

Khi alpha cao quá cũng là vấn đề

α đo mức các câu trả lời giống nhau. Cách dễ nhất để có α đẹp là hỏi đi hỏi lại một ý. Nhìn thang đo DTC trong bảng hỏi của bạn: "thông tin đáng tin", "trình bày trung thực", "mô tả có thể tin được" - người trả lời rất dễ chấm như nhau. α khi đó sẽ cao, nhưng là cao giả tạo: bốn câu chỉ đo một khía cạnh hẹp, như hỏi một nhân chứng bốn lần.

Vì vậy α rất cao - ví dụ 0,96 (số liệu giả lập) cho thang đo 4 câu - nên đọc là dấu hiệu câu hỏi trùng ý, không phải "thang đo xuất sắc". Đây là cách đọc, không phải ngưỡng có nguồn trong khóa. Độ tin cậy cao cũng chưa chứng minh giá trị (bài 15).

Alpha 0,6x: nói gì với hội đồng

Đã loại câu yếu mà α vẫn 0,6x? Đừng viết "đạt". Cách trung thực:

Mẫu câu báo cáo

Mẫu 1 - đạt ngay

Thang đo Chất lượng nội dung (CLND) có hệ số Cronbach's Alpha = 0,82 (số liệu giả lập), đạt mức quy ước 0,7 (Nunnally, 1978). Các biến quan sát có tương quan biến–tổng hiệu chỉnh từ 0,55 đến 0,71 (số liệu giả lập), đều ≥ 0,3 (Nunnally & Bernstein, 1994). Bốn biến quan sát được giữ lại cho phân tích EFA.

Mẫu 2 - có loại biến

Ở lần chạy đầu, thang đo Tính hấp dẫn trực quan (HDTT) có α = 0,74; biến X2.4 có tương quan biến–tổng hiệu chỉnh 0,21 < 0,3 (Nunnally & Bernstein, 1994) (số liệu giả lập). Xét về nội dung, X2.4 [lý do]. Sau khi loại X2.4, α tăng lên 0,81 (số liệu giả lập); ba biến quan sát còn lại được đưa vào EFA.

Kiểm tra trí nhớ

Một thang đo có α = 0,64 (số liệu giả lập). Cách viết nào đúng?
0,64 thấp hơn quy ước 0,7 của Nunnally (1978). Lựa chọn "Nunnally 1967 cho 0,6" hấp dẫn vì đúng là ấn bản 1967 có nêu 0,50–0,60 - nhưng đó là mốc cho giai đoạn phát triển thang đo, không phải mốc của 1978. Với khóa luận, cách viết trung thực là nêu 0,64, dẫn 0,7 (Nunnally, 1978), rồi bàn với GVHD.
Trong bảng Item-Total Statistics, câu nào nên xem xét loại?
0,21 < 0,3 (Nunnally & Bernstein, 1994). Lựa chọn hấp dẫn nhất là "alpha-nếu-loại thấp": thấp nghĩa là bỏ câu đó thì α giảm - câu đó đang giúp thang đo, phải giữ.
Hai câu trong thang đo DTC gần như trùng ý. α thường sẽ thế nào?
Câu trùng ý được chấm giống nhau nên α tăng - nhưng thang đo chỉ đo một khía cạnh hẹp. Lựa chọn hấp dẫn nhất là "không đổi vì α bỏ qua câu chữ": đúng là α không đọc câu chữ, nhưng nó đọc cách người ta trả lời, và câu trùng ý thì được trả lời giống nhau.
Có hai câu trông yếu trong cùng thang đo. Làm thế nào?
Loại một câu thì số liệu của các câu còn lại đổi; câu thứ hai có thể hết yếu. Lựa chọn hấp dẫn nhất là "loại cả hai cho gọn" - tiết kiệm một lần chạy nhưng có thể bỏ oan một câu tốt. Thay câu mới sau khi đã thu dữ liệu là không thể.

Nhớ lại không nhìn đáp án

Tự trả lời thành tiếng trước khi bấm mở.

Cột "Cronbach's Alpha if Item Deleted" đọc thế nào?
bấm để xem
Là α của thang đo nếu bỏ câu đó. Cao hơn α hiện tại → câu đó đang kéo thang đo xuống, cân nhắc loại. Thấp hơn → câu đó đang giúp, giữ lại.
Nunnally (1978) đặt 0,70 cho giai đoạn nào? Mốc 0,6 từ đâu ra?
bấm để xem
0,70 cho giai đoạn nghiên cứu sơ bộ; 0,80 cho nghiên cứu cơ bản; 0,90 trở lên cho ứng dụng ra quyết định. Mốc 0,50–0,60 có ở Nunnally (1967, ấn bản 1) cho giai đoạn phát triển thang đo - không phải ấn bản 1978.
Thang đo 4 câu ra α = 0,96 (số liệu giả lập). Bạn nghĩ gì, làm gì?
bấm để xem
Nghi câu hỏi trùng ý, không mừng vội. Đọc lại câu chữ từng cặp, và nói rõ trong bài rằng độ tin cậy cao chưa chứng minh giá trị của thang đo (bài 15).

Bài tập - áp lên khóa luận của bạn

20 phút · làm ngay, chưa cần dữ liệu

Mở KLTN_CHINH_SUA_DOT_1.docx, tạo một mục nháp cho Chương 4: Kiểm định độ tin cậy thang đo. Viết sẵn:

  1. Một bảng 6 dòng CLND, HDTT, MBTT, DG, DTC, YDM × các cột: số biến quan sát ban đầu · α · tương quan biến–tổng nhỏ nhất · biến bị loại · α sau cùng. Để trống mọi ô số.
  2. Đoạn văn khung cho cả 6 biến Dùng Mẫu 1 và Mẫu 2 ở trên, thay số bằng [ … ]. Ghi đủ tên tác giả cạnh mỗi ngưỡng.
  3. Một câu dự phòng cho trường hợp α 0,6x Theo các ý ở mục "nói gì với hội đồng".
  4. Đánh dấu thang đo nghi trùng ý Đọc lại 24 câu, chỉ ra cặp câu nào có nguy cơ làm α cao giả tạo, và sửa ngay nếu còn kịp trước khảo sát.

Sản phẩm: nửa trang Chương 4 với ô trống, sẵn sàng điền khi có dữ liệu thật. Tuyệt đối không điền số ví dụ trong bài này vào khóa luận.

Đọc thêm - nguồn chính cho bài này

Field, A., Discovering Statistics Using IBM SPSS Statistics, 6th edition, SAGE - phần về phân tích độ tin cậy (reliability analysis). Trang nhà xuất bản. Đọc để hiểu Alpha được tính và đọc thế nào trong SPSS. Các ngưỡng trong bài truy về Nunnally (1978) và Nunnally & Bernstein (1994) theo bảng nguồn của khóa, chưa đối chiếu số trang.

Ghi chú thuật ngữ: "tương quan biến–tổng hiệu chỉnh" (Corrected Item-Total Correlation) và "alpha nếu loại biến" (Cronbach's Alpha if Item Deleted) chưa có mục riêng trong từ điển; bài này dùng cách gọi phổ biến trong khóa luận Việt Nam.

Có gì chưa rõ?

Hỏi tôi bất cứ lúc nào

Tôi là giáo viên của bạn trong khóa này. Gửi tôi đoạn văn khung bạn vừa viết, tôi sẽ soát ngưỡng nào thiếu tên tác giả, câu nào hội đồng có thể bắt bẻ.